Theo Báo cáo từ Hiệp hội công nghiệp ngũ cốc Tây Úc công bố mới nhất vào tháng 02/2025, sản lượng ngũ cốc thu hoạch được mùa vụ 2024 cao thứ 3 trong lịch sử Tây Úc, đạt 22,4 triệu tấn.
Mục lục nội dung
1. Tổng quan
Mùa vụ ngũ cốc 2024 đã kết thúc với sản lượng kỷ lục cao thứ 3 trong lịch sử Tây Úc (đạt 22,4 triệu tấn) với ghi nhận 2 kỷ lục trước vào năm 2021 (đạt 24 triệu tấn) và 2022 (đạt 26 triệu tấn).
Mùa đông 2023 ghi nhận là một trong những mùa lạnh nhất kể từ những năm 1970, lượng mưa phân bổ không đều, khô hạn ở miền Bắc. Mặc dù, diện tích gieo trồng là hơn 8.3 triệu ha nhưng chỉ thu về được 15 triệu tấn do mất mùa.
Mùa vụ 2024, thời tiết ấm dần lên, thúc đẩy sản xuất phát triển trở lại, khai thác đất hoang, chuyển đổi đất nuôi cừu sang đất trồng trọt, gia tăng diện tích đất canh tác, nâng cao sản lượng, mang về cho Tây Úc những giá trị thương mại cao.
Mặc dù ước tính thu hoạch thấp hơn thực tế 20% ở một số vùng nhưng hoạt động nâng cấp hạ tầng, áp dụng công nghệ kỹ thuật hiện đại vào canh tác đã giúp Tây Úc duy trì được sản lượng ổn định qua nhiều mùa vụ khác biệt, không làm gián đoạn chuỗi cung ứng và đứt gãy sản xuất gây ảnh hưởng nặng nề lên nông dân Úc và các nước hợp tác.
Từ 2023 đến 2024, diện tích canh tác tăng từ 7–10% do chuyển đổi đất đồng cỏ, cho thấy một sự tập trung nguồn lực vào trồng trọt đang được đẩy mạnh, và nhu cầu ngày càng tăng từ thị trường.
Tây Úc vốn sở hữu kiểu khí hậu nhiệt đới đến ôn đới, thích hợp cho nhiều loại cây trồng vụ Đông phát triển: Lúa mì, Đậu Lupin, Lúa mạch, Canola (Cải dầu), nhưng không phải là vùng phát triển mạnh cây trồng vụ Hè.
2. Sản lượng theo vùng
| Vùng cảng | Lúa mì | Lúa mạch | Cải dầu | Yến mạch | Đậu Lupin | Các loại đậu khác | Tổng |
| Kwinana | 5.630.000 | 2.540.000 | 1.100.000 | 370.000 | 185.000 | 12.000 | 9.837.000 |
| Albany | 1.790.000 | 2.250.000 | 860.000 | 270.000 | 90.000 | 15.000 | 5.275.000 |
| Esperance | 1.830.000 | 980.000 | 640.000 | 20.000 | 40.000 | 40.000 | 3.550.000 |
| Geraldton | 3.200.000 | 120.000 | 270.000 | 5.000 | 165.000 | 1.000 | 3.761.000 |
| Total | 12.450.000 | 5.890.000 | 2.870.000 | 665.000 | 480.000 | 68.000 | 22.423.000 |
(Lưu ý: Bao gồm cả lượng sử dụng nội bộ tại nông trại và giao dịch ngoài mạng lưới CBH)
Bảng miêu tả ước tính sản lượng thu hoạch được từng vùng cảng tại Tây Úc vụ mùa 2024/25
2.1 Kwinana
Qua thống kê cho thấy sản lượng tại Kwinana chiếm ưu thế với mức sản lượng đạt được là 9,84 triệu tấn (chiếm 44% tổng sản lượng tại Tây Úc) và 48% tổng diện tích đất canh tác vào năm 2024.
Trong đó tổng diện tích đất canh tác toàn Tây Úc là 9 triệu ha vậy riêng Kwinana là 4.320 triệu ha đất nông nghiệp.
Lượng mưa cao vào cuối mùa, độ ẩm tăng, nhiệt độ ổn định đã thúc đẩy cho lúa mì và cây cải dầu phát triển mạnh mẽ đạt năng suất cao với mức năng suất trung bình của vùng ghi nhận được lần lượt là: 2.33 tấn/ha cho lúa mì và 1.64 tấn/ha.
2.2 Albany
Albany với tổng sản lượng thu hoạch được là 5.3 triệu tấn (chiếm 24% tổng sản lượng Tây Úc) xếp vị trí thứ 2 trong sản lượng vụ mùa 2024 phân theo vùng và là con số cao nhất từ trước đến nay của vùng. Diện tích canh tác của vùng tăng từ 7-10% do chuyển đổi từ đồng cỏ sang đất trồng trọt và được ghi nhận tập trung tại Albany.
Thời tiết ấm áp hơn, không có sương giá, không bị ngập úng, là điều kiện thuận lợi cho cây cải dầu phát triển. Nhiều cánh đồng đạt năng suất trung bình 3 tấn/ha, đây là một con số rất tích cực của cải dầu.
Năng suất hạt lúa mì của vùng vẫn duy trì ở mức ổn định với sản lượng khá tốt đạt 1,7 triệu tấn vụ mùa 2024.
Ghi nhận sự quan tâm trở lại đối với đậu tằm trong khu vực.
2.3 Esperance
Tổng sản lượng đạt 3.55 triệu tấn (chiếm 16% sản lượng Tây Úc)
Sản lượng lúa mì trong khu vực không đạt như kỳ vọng. Bên cạnh đó, sản lượng lúa mạch chỉ khoảng 20% là đạt tiêu chuẩn để làm mạch nha.
Mặt khác, cây cải dầu được ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ hơn khi năng suất tăng với mức trung bình trong năm 2024 đạt 1.91 tấn/ha, biên độ lợi nhuận tăng do áp dụng các giống lai mới.
Lượng mưa ghi nhận thấp, không có mưa vào cuối vụ tránh được tình trạng sụt giảm sản lượng do mưa gây nên như ở các khu vực khác từng xảy ra.
2.4 Geraldton
Khu vực có tổng sản lượng thu hoạch đạt 3.75 triệu tấn (chiếm 17% sản lượng Tây Úc) chủ yếu đến từ một năm mùa vụ thuận lợi đến từ các khu vực có lượng mưa thấp. Geraldton ghi nhận sản lượng lúa mạch thu hoạch được cao thứ 2 Tây Úc với 3.2 triệu tấn. Năng suất lúa mì vượt xa các mức trung bình trước đó.
Những vùng có đất nhẹ thời tiết không thuận lợi mang lại kết quả kém do mưa quá nhiều và thời điểm thực hiện các biện pháp nông học không tối ưu. Mùa vụ ngắn khiến nông dân không có nhiều thời gian để bón phân hay phun thuốc bảo vệ thực vật, dẫn đến năng suất cuối vụ bị ảnh hưởng rõ rệt.
Ở một khía cạnh tích cực khác, lượng mưa đã tạo điều kiện tốt để triển khai các hoạt động cày, xới đất trồng quy mô lớn trong vùng. Kết hợp với độ ẩm còn lại từ tầng đất sâu, hứa hẹn sẽ đem lại một vụ mùa tốt hơn năm 2025 nếu lượng mưa ổn định ở mức trung bình.
Hiện nay, diện tích đất trồng lúa mì đang chiếm ưu thế trong cơ cấu quy hoạch nông nghiệp của vùng. Điều này dẫn đến tình trạng thiếu đất canh tác để luân canh, bổ sung giá trị dinh dưỡng cho đất trồng. Vì vậy, trong năm 2025 vùng sẽ mở rộng diện tích đất trồng cải dầu và đậu lupin để cân bằng lại hệ thống đất canh tác trong khu vực.
3. Sản lượng theo loại cây trồng (toàn bang Tây Úc)
3.1 Lúa mì
Tổng sản lượng lúa mì của Tây Úc đạt 12.45 triệu tấn (chiếm 39% tổng sản lượng lúa mì dự báo thu hoạch được của Úc vụ đông 31.9 triệu tấn do ABARES công bố).
Năng suất trung bình của lúa mì đạt 2,74 tấn/ha, với tổng sản lượng 12,45 triệu tấn từ 4,59 triệu ha gieo trồng, đây là mức năng suất cao nhất trong lịch sử của tỉnh bang. Mặc dù tỷ lệ diện tích đất trồng so với cây trồng giảm từ 57% xuống 51% trong năm 2024 nhưng vẫn ghi nhận một mức sản lượng rất tốt.
Tuy nhiên, ghi nhận lượng mưa vào cuối mùa – giai đoạn thu hoạch ở các vùng trung tâm và phía Bắc đã ảnh hưởng đến chất lượng hạt – làm giảm chỉ số falling numbers* khiến nhiều lô hàng bị hạ cấp, rớt khỏi nhóm hạt chất lượng cao. Tuy nhiên, các vùng khác trong bang đã cải thiện được chất lượng và cuối cùng vẫn tạo ra được một lượng đáng kể các sản phẩm thuộc nhóm chất lượng cao.
Tỉnh bang áp dụng hệ thống phân loại hạt (utility grades) giúp nông dân tối ưu và định giá phù hợp cho từng loại sản phẩm. Bên cạnh đó, số lượng hạt không đạt chất lượng cao cũng ảnh hưởng không nhỏ đến doanh thu cuối vụ vì giá bán không được cao và nhiều nông dân phải hạ giá bán.
Năng suất cao nhờ hiệu quả sử dụng nước tốt; nhiệt độ mùa xuân giúp tỷ lệ đậu hạt cao hơn.
*Falling numbers: được biết đến với tên gọi là ‘chỉ số rơi’ – đo lường sự hoạt động của enzyme alpha amylase trong hạt, ảnh hưởng đến khả năng kết dính làm bột mì. Chỉ số FN thấp, làm bánh ra sẽ có độ xốp giảm, không tơi và mịn và dễ bị xẹp.
3.2 Lúa mạch
Tổng sản lượng lúa mạch tại bang Tây Úc 2024 đạt 5.9 triệu tấn từ 1.77 triệu ha đất được trồng với năng suất trung bình 3.37 tấn/ha. Diện tích trồng lúa mạch chiếm 19.7% tổng diện tích cây trồng toàn bang.
Tỷ lệ sản xuất lúa mạch làm mạch nha và lúa mạch làm thức ăn chăn nuôi tại tỉnh bang đang là 25/75 cho thấy nhu cầu về thức ăn chăn nuôi đang được ưu tiên. Việc phân chia sản xuất lúa mạch và lúa mì chất lượng cao ở nhiều khu vực khác nhau giúp giảm rủi ro do biến đổi khí hậu và tăng cường năng lực cung ứng ngũ cốc ổn định cho Tây Úc. Khác với trước đây, lúa mì và lúa mạch thường được nuôi trồng tập trung tạo thành 1 vùng lớn như ‘vành đai lúa mì’ bao quanh Úc nhưng hiện nay không còn nuôi trồng tập trung như vậy nữa để hạn chế bớt rủi ro và thu hoạch được nhiều hạt chất lượng cao hơn.
3.3 Cải dầu
Cải dầu được đánh giá là loại cây trồng có sự tăng trưởng nổi bật nhất trong năm 2024 với mức sản lượng toàn tiểu bang là 2.8 triệu tấn được trồng với năng suất trung bình là 1.69 tấn/ha. Tại các vùng có lượng mưa cao, ghi nhận năng suất cải dầu rất ấn tượng, đạt trung bình khoảng 3 tấn/ha do không bị ngập úng hay phải chịu sương giá nặng nề.
Đối với những vùng có lượng mưa thấp, cải dầu cũng đạt được năng suất rất tốt nhờ vào giống lai thế hệ mới có thời gian sinh trưởng ngắn nhưng tiềm năng phát triển cao, cùng với sự đầu tư vào phân bón hóa học và trang thiết bị của nông dân vì tự tin với khả năng sinh lời từ cải dầu.
3.4 Yến mạch
Diện tích trồng yến mạch trong năm 2024 đạt hơn 320.000 ha, tăng 30% so với năm 2023. Nguyên nhân chủ yếu là do giá yến mạch tăng mạnh vào đầu mùa, cho nên thị trường trồng yến mạch cũng trở nên sôi động hơn. Dự báo diện tích yến mạch sẽ tiếp tục tăng thêm từ 15 – 20% trong năm 2025.
Hiện tại, giá yến mạch niên vụ mới đang ở mức khá tốt, năng suất cao đạt được trong năm khô hạn 2024, trọng lượng hạt đạt phân loại chất lượng cao, đã giúp khôi phục lại được sự quan tâm từ nông dân cho loại cây trồng này.
Việc áp dụng các giống yến mạch mới có năng suất cao hơn, cùng với sự thay đổi trong kỹ thuật canh tác, đã giúp sản lượng cuối vụ ổn định và đạt chất lượng cao hơn.
3.5 Đậu lupin
Sản lượng đậu lupin Tây Úc vẫn đang ở mức thấp kỷ lục và ngay cả với mức giá cao như hiện tại cũng khó có thể thúc đẩy sự gia tăng diện tích trồng đậu lupin vào vụ mùa năm 2025.
4. Kết luận
- Khí hậu ấm hơn thúc đẩy năng suất tăng trưởng dù lượng mưa thấp.
- Kỹ thuật canh tác cải tiến: sử dụng đất để hoang, phân bón hiệu quả, chọn giống ngắn ngày, và gieo trồng sớm. Áp dụng các giống lai mới và phân tán vùng gieo trồng đối với lúa mạch và lúa mì để hạn chế bớt những rủi ro từ mưa cuối vụ ở một số vùng.
- Chuyển đổi đất từ chăn nuôi cừu sang trồng trọt → tăng diện tích đất canh tác nông nghiệp, tăng năng lực cung ứng, tăng khả năng đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của các sản phẩm nông sản.
- Trang thiết bị thu hoạch nâng cấp giúp xử lý sản lượng lớn mà không gây tắc nghẽn như trước.
- Củng cố vị thế Tây Úc trở thành trung tâm sản xuất ngũ cốc lớn nhất nước Úc
- Tây Úc tăng trưởng bền vững hơn nhờ mở rộng diện tích, áp dụng công nghệ sinh học vào lai tạo giống mới và giảm rủi ro khí hậu (nhờ đa dạng vùng trồng trọt)
- Tuy nhiên, giảm chất lượng hạt ở một số vùng do mưa cuối vụ ảnh hưởng đến giá trị xuất khẩu.
Nông nghiệp Úc không ngừng cải tiến và phát triển công nghệ để đưa vào quy trình sản xuất và xuất khẩu nông sản, mở rộng diện tích đất canh tác, đảm bảo nguồn cung chất lượng cao, ổn định và mang lại hiệu quả kinh tế vượt trội cho Úc và các nước hợp tác.
TSB là đơn vị cung cấp đa dạng các nguồn nguyên liệu nông sản chất lượng cao từ các bang Nam Úc, Tây Úc, Victoria và New South Wales. Nông sản nhập khẩu theo tiêu chuẩn Quốc tế, với quy mô lớn, được sử dụng trong chế biến thực phẩm và làm thức ăn chăn nuôi.
Liên hệ TSB, để được tư vấn giải pháp phù hợp và nhận báo giá chi tiết cho từng hạng mục sản phẩm.
- Liên hệ hotline: 0903 102 990




